Quảng cáo giữa trang

Sự nghiệp và vị thế của Bình Vương Dương Tam Kha trong lịch sử dân tộc ở thế kỷ X

Thứ ba - 06/09/2016 04:09
Dương Tam Kha, còn có tên là Dương Chủ Tướng, là con của Tiết độ sứ Dương Đình Nghệ, quê ở làng Dương Xá (tên nôm là Làng Giàng), huyện Thiệu Hóa, Thanh Hóa

Dương Tam Kha, còn có tên là Dương Chủ Tướng, là con của Tiết độ sứ Dương Đình Nghệ, quê ở làng Dương Xá (tên nôm là Làng Giàng), huyện Thiệu Hóa, Thanh Hóa. Dương Tam Kha tiếp nối sự nghiệp của Ngô Vương (Ngô Quyền 939-944) xưng là Dương Bình Vương, làm chủ nước ta trong khoảng thời gian 6 năm (945-950).

Bình Vương Dương Tam Kha là một danh nhân lịch sử, để lại những dấu ấn đậm nét trên các phương diện: chính trị, quân sự, kinh tế, xã hội vào nửa cuối thế kỷ X. Thế kỷ X là thế kỷ đánh dấu bước ngoặt lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Đó là thời kỳ chấm dứt hơn 1000 năm Bắc thuộc, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự chủ, xây dựng một quốc gia Đại Việt hùng mạnh. Đọc lịch sử Việt Nam ở thế kỷ X, chúng ta thấy Dương Tam Kha có vai trò to lớn, có những đóng góp rất quan trọng trong giai đoạn lịch sử này.

Ở đây, có một chi tiết cần lưu ý, Đại Việt sử ký toàn thư  Khâm đinh Việt sử thông giám cương mục đều chép “Dương Tam Kha cướp ngôi”, thì Việt sử lược chỉ chép là: “Chủ Tướng tự lập làm vương”.

Dù thế nào đi nữa, việc đánh giá lại công lao, sự nghiệp và vị thế của Bình Vương Dương Tam Kha trên cơ sở những tư liệu mới phát hiện gần đây là điều cần thiết, không những giúp đáp ứng yêu cầu khách quan, công bằng của ngành khoa học lịch sử mà còn gạt bỏ những nhận định thiếu công tâm đối với bậc hiền nhân. Chúng tôi cho rằng có thể ghi nhận sự nghiệp và vị thế của Bình Vương Dương Tam Kha trên một số mặt dưới đây:

1. Trong trận Bạch Đằng năm 938, Dương Tam Kha góp công lớn bằng việc giết chết Hoằng Thao, chủ tướng giặc Nam Hán.

Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 do Ngô quyền lãnh đạo, chấm dứt 1000 năm Bắc thuộc, mở ra kỷ nguyên độc lập, tư chủ của dân tộc Việt Nam, có công lao lớn của Dương Tam Kha.

Trong bộ Thiên gia thi vựng tuyển do Kiếu Năng Tĩnh (1835-?), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất than khoa Canh Thìn (1880), làm quan tới chức Đốc học Hà Nội, thăng Quốc Tử giám Tế tửu, tuyển chọn, có nhiều bài thơ liên quan tới Bình Vương Dương Tam Kha như: Quá Bình Vương cựu trạch từ của Tiến sĩ Lê Tung, đời Lê Thánh Tông; Đáo Dương chủ Tùng Khê ấp của Tiến sĩ Đặng Phi Hiển (1567-1650) đời Lê Thần Tông; Quá Dương Công thực phong ấp của Tiến sĩ Hà Tông Quyền (1798-1839) đời Minh Mệnh; Đáo Bình Vương cựu ấp của Tiến sĩ Phạm Văn Nghị (1805-1880) triều Nguyễn… Trong số đó, chúng tôi chú ý hơn cả là bài Quá Bình Vương cựu trạch từ (Qua đền trên nền nhà cũ Bình Vương) của Tiến sĩ Lê Tung:

Dịch nghĩa:

Qua đền trên nền nhà cũ Bình Vương

Cắm cọc xuống sông, khéo bày mưu lạ

Chém đầu Hoằng Thao nhà Hán sửa hận cho cha

Chia định xóm làng, khẩn thêm ruộng đất,

Nối tiếp người xưa giữ gìn nền tự chủ, tuy việc cũ mà đâu có xa xôi.

Do vậy, trong bài thơ Quá Bình Vương cựu trạch từ nói trên, sử gia Lê Tung cho rằng Dương Bình Vương (Dương Tam Kha) là người đã “Trảm Hán Hoằng Thao tuyết phụ cừu”, thì chắc chắn ông có đủ cứ liệu đáng tin cậy để khẳng định điều ấy.

Sự kiện Dương Tam Kha chém đầu tướng giặc Nam Hán Lưu Hoàng Thao, còn được Thần tích đền Cổ Lễ có đoạn viết: “… Tam Kha công khiển Dương Thục Phi, Dương Cát Lợi phạt mộc tam thiên châu tháp nhập lưu trung, lịch cận tam lý trường, đãi thủy tướng, tướng quân khiêu chiến dẫn tặc việt quá xung trận, thủy thoái Ngô Quyền công suất chư tướng tự giang khẩu lực công. Tam Kha xuất bản bộ binh dĩ trường tiễn tự lưỡng ngạn loạn phóng, trảm đắc Hoằng Thao, Hán quân đại bại”. (Nghĩa là: … Ông Tam Kha sai Dương Thục Phi, Dương Cát Lợi chặt 3.000 cây gỗ đóng xuống lòng sông trên một quãng dài 3 dặm (hơn 1,5km). Đợi lúc nước lên đem quân khiêu chiến khiến giặc vượt qua bãi cọc, khi nước xuống Ngô Quyền đem chư tướng từ cửa sông hết sức đánh tập hậu. Ông Tam Kha cho quân bản bộ dùng mũi tên dài ở hai bờ bắn xả vào quân giặc, chém Hoằng Thao, làm cho quân Hán đại bại…).

Ngày nay, tại đền thờ Bình Vương Dương Tam Kha ở thị trấn Cổ Lễ, còn đôi câu đối:

Khuông phù Ngô Chủ, lập Nam bang, thiên thu hách tạc

Trảm diệt Hoằng Thao, bình Bắc khấu, lịch đại bao phong

Nghĩa là:

Dốc phù Ngô Chủ, dựng nước Nam, nghìn thu hiển hách

Chém giết Hoằng Thao, trừ giặc Bắc, nối đời bao phong.

2. Tiếp nối sự nghiệp của Ngô Quyền, làm chủ và củng cố đất Việt trong 6 năm từ năm 945 đến năm 950

Ngày nay, dưới cách nhìn mới và đứng trên lập trường dân tộc, các nhà sử học đã đánh giá và nhận định về Dương Tam Kha có phần khác so với các sử thần phong kiến trước đây. Họ không coi sự kiện Dương Tam Kha tự lập làm vua, sau khi Ngô Quyền mất (944) là việc “cướp ngôi”, là hành động “bất nghĩa”.

Trong bộ Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, Trần Quốc Vượng và Hà Văn Tấn viết: “ Năm 944, Ngô Quyền mất, con là Ngô Xương Ngập nối ngôi. Em vợ Ngô Quyền là Dương Chủ Tướng (Dương Tam Kha), tuy được Ngô Quyền căn dặn giúp Xương Ngập, nhưng đã tự lập làm Vương, tức là Bình Vương… Sau khi giành được độc lập, trong một thời gian dài, giai cấp phong kiến Việt Nam đã phát triển thế lực kinh tế và chính trị ở các địa phương, phát triển khuynh hướng cát cứ. Tuy nhiên, những năm đầu tiên sau khi Ngô Quyền chết, nhà nước trung ương không phải hoàn toàn tan rã. Mặc dù suy yếu, nó vẫn tồn tại trong chừng mực nào đó. Chủ Tướng vẫn xưng Vương cho tới năm 950…”.

Trong bối cảnh chính trị, xã hội nửa đầu thế kỷ X, khi thổ hào ở các địa phương và nhiều cựu thần nhà Ngô nhân tình trạng rối ren của nhà nước trung ương tập quyền đã liên tiếp nổi dậy cát cứ ở nhiều nơi, đất nước khi đó rơi vào tình trạng hỗn chiến phong kiến trong và sau đó sử cũ gọi chung là thời kỳ Thập nhị sứ quân (12 sứ quân) và nó cũng phản ánh thế sự non yếu của yếu tố thống nhất kinh tế. Do vậy, việc một người có tài năng, có uy tín là con trai Tiết độ sứ Dương Đình Nghệ như Dương Tam Kha gạt bỏ Ngô Xương Ngập gánh vác sự nghiệp làm chủ đất nước là một việc làm bình thường dễ hiểu. Vào thời kỳ ấy, khi Nho giáo chưa nắm giữ vị trí độc tôn trong đời sống tư tưởng của tầng lớp lãnh đạo đất nước, cũng như nhân dân thì người ta ít chú ý tới cái gọi “Chế độ tông pháp”, tức là “cha truyền con nối” thì việc một người có tài năng, có uy tín là con trai Tiết độ sứ Dương Đình Nghệ như Dương Tam Kha gạt bỏ Ngô Xương Ngập gánh vác sự nghiệp làm chủ đất nước là một việc làm bình thường dễ hiểu. Chứng cứ là Ngô Quyền (trước Dương Tam Kha) cũng xưng vương vào năm 939 sau khi giết chết Kiều Công Tiễn. Lẽ ra, theo đúng đạo “Tam cương” thì Ngô Quyền phải trả lại ngôi vua cho dòng họ của Dương Đình Nghệ, vừa là chủ tướng, vừa là nhạc phụ của ông. Sau này, vào năm 979, Đinh Tiền Hoàng bị Đỗ Thích giết chết, thì Định Quốc công Nguyễn Bặc, Ngoại giáp Đình Điền cùng Thập đạo tướng quân Lê Hoàn cùng phù Vệ vương Đinh Toàn 6 tuổi lên ngôi vua. Nhưng trước nguy cơ nhà Tống chuẩn bị xâm lược nước ta, Lê Hoàn không giữ chữ “ Trung” như thường tình mà “ rời Đinh Toàn ra nhà khác, cấm cố cả họ Đinh, lên thay thống lĩnh”. Hành động đúng đắn được lịch sử ca ngợi trên đây cũng bị các sứ thần phong kiến lúc đó phê phán tựa như phê phán đối với Dương Tam Kha trước đó.

Thực ra, nếu Dương Tam Kha có điều gì đáng trách, thì chính là trách ông quá sơ hở về chính trị và quá tin tưởng vào người con nuôi, vừa là cháu gọi ông bằng cậu là Ngô Xương Văn, để cho Xương Văn giành lại ngôi vua từ tay mình.

Ngô Xương Ngập và Ngô Xương Văn là những người như thế nào? Họ tuy là con của vị anh hùng dân tộc Ngô Quyền, nhưng chỉ là những người thiếu kinh nghiệm chính trị, kém bản lĩnh và thiếu dũng khí. Chứng cứ là sau khi giành lại quyền binh từ tay Dương Tam Kha, chỉ trong thời gian ngắn, hai anh em Thiên Sách vương Ngô Xương Ngập và Nam Tấn vương Ngô Xương Văn đã xảy ra hiềm khích, mâu thuẫn nặng nề. Thiên Sách vương Ngô Xương Ngập chuyên quyền thâu tóm mọi quyền hành, đẩy Nam Tấm vương Xương Văn vào thế không được tham gia chính trị gì nữa. Đến năm 954, Ngô Xương Ngập mất, Xương Văn nắm chính quyền. Thấy lực lượng của mình yếu ớt, Ngô Xương Văn hèn nhát cúi đầu xin thần phục nhà Nam Hán. Vua Nam Hán là Lưu Thạnh, phong cho Ngô Xương Văn làm Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ kiêm đô hộ.

Năm 965, trong một cuộc tấn công hai thôn Đường, Nguyễn ở Thái Bình (miền Quốc Oai- Sơn Tây), Xương Văn bị tên nỏ của quân mai phục bắn chết. Từ bấy giờ cục diện cát cứ, hỗn chiến phong kiến lại càng kịch liệt và bắt đầu loạn 12 sứ quân.

3. Có công lớn trong việc khai khẩn và tạo lập vùng đất Chương Dương (Hà Nội) và Cổ Lễ (Nam Định).

Như trên đã nói, sau khi xưng là vương, Dương Tam Kha không có hành động truy sát họ Ngô, ông đã làm chủ và củng cố đất nước trong thời gian 6 năm (944-950).

Năm 950, Ngô Xương Văn giành lại ngôi vua từ Dương Tam Kha. Ngô Xương Văn thấy Dương Tam Kha có công nuôi nấng mình và có lẽ vì phe cánh của Tam Kha cũng lớn nên không dám giết, chỉ giáng làm Trương Dương công và cho ăn lộc ở ấp Chương Dương. Nay là xã Chương Dương, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây. Khi bị đưa về Chương Dương, khi ấy thế lực của Dương Tam Kha vẫn còn rất mạnh và uy tín của Ông còn rất cao. Nếu khi đó Dương Tam Kha dấy binh, kêu gọi dân chúng đứng lên chống lại anh em Ngô Xương Ngập thì tình hình đất nước đã khác. Vì vậy, Dương Tam Kha, với tấm lòng vì dân, vì nước cụ đã về Chương Dương dạy dân trồng trọt, chăn nuôi. Một lần nữa người ta thấy Dương Tam Kha biết hy sinh quyền lợi cá nhân mình để cho đất nước yên bình.

Vào giữa thế kỷ X, vùng đất Chương Dương vẫn là một vùng hoang vắng, dân cư thưa thớt. Vùng đất ấy còn mang tên “Chân Giang”, có nghĩa là vùng đất nằm kề bên sông, khi nước lên thì ngập lụt, và khi mùa thu đến thì nước rút, lộ ra bãi bồi màu mỡ để cày cấy, trồng trọt. Trong một thời gian ngắn, Dương Tam Kha đã dày công cải tạo vùng đất hoang hóa thành vùng quê khá sầm uất. Nhân dân nơi đây đã lặp đền thờ suy tôn ông là Thành hoàng làng. Trong đền thờ còn lưu giữ một cuốn thần phả- Chương Dương thần kỳ ký- và 28 đạo sắc phong của các triều đại phong kiến. Bản Chương Dương thần từ ký có thể được biên soạn sau đời vua Khải Định (1916-1925), ghi chép về tiểu sử tôn thần và sự gia phong mỹ hiệu của cả triều đại, kể từ vua Lê Kính Tông (1600-1619) triều Lê Trung Hưng đến đời vua Khải Định triều Nguyễn (1802-1945). Vị phúc thần của 4 xã – tức 4 làng (Chương Dương, Kỳ Dương, Thư Dương, Chương Lộc) của tổng Chương Dương xưa là Bột Hải Hoàng đế, có tên thật là Dương Tam Kha.

Trong đền Chương Dương còn 3 bức hoành phi có 6 đôi câu đối, nội dung đều ca tụng công đức của Dương Tam Kha, thí dụ như câu đối dưới đây:

Lục tải xưng vương truyền nội sử

Thiên thu thực ấp hiển dư linh

Dịch nghĩa:

Sáu năm xưng vương ngời sử sách

Nghìn thu thực ấp rạng uy linh.

Nhiều nhà khoa bảng đã về thăm thực ấp Chương Dương của Dương Tam Kha, trước “dư linh” của ông, họ đã làm thơ bày tỏ niềm khâm phục sự nghiệp của vị Trương Dương công này. Trong tập Sơn Nam phong vật chí, Tiến sĩ Hà Trong Quyền ( 1798-1839) có bài Quá Dương công thực phong ấp (Quá thực ấp của Dương công). Trong đó, qua 2 câu thực của bài, ta thấy tác giả rất khâm phục tài cao, đức lớn của Dương Tam Kha:

“Nhân” vô trọng vị, xưng điền lão

“Trí” bảo hoàng đồ hoạch địa lô

Tạm dịch:

“Nhân” không tham ngôi lớn, mà chỉ nguyện làm ông già với đồng ruộng.

“Trí” để giữ gìn cơ nghiệp hoàng gia, nên vạch kế phân định đất đai.

Rõ ràng, đó là cái nhìn của một nhà Nho minh triết và công tâm!

Tuy vậy, Dương Tam Kha không ở lại ấp Chương Dương mà đến năm 953, ông đã đưa người nhà rời về phía Nam, để tiếp tục khai khẩn vùng đất mới. Dương Tam Kha dừng chân ở Giao Thủy, một vùng đất đai màu mỡ, dân thuần, tục hậu. Theo Gia phả họ Dương, thì tại đây, ông đổi tên là Dương Tùng Khê, chiêu tập nhân dân cải tạo các bãi đất hoang hóa, sình lầy, lau lác um tùm thành những cánh đồng trù phú. Dương Tam Kha còn dạy dân làm thủy lợi, khơi sông ngòi, đắp đê phòng lụt, nhờ vậy mùa màng liên tiếp bội thu, xóm làng ngày càng sầm uất, đông vui. Cùng với việc quan tâm phát triển sản xuát, ông còn chú trọng xây dựng thuần phong mỹ tục tại nơi làng quê mới. Tương truyền, Dương Tam Kha đã đặt tên làng mới là ấp Tùng Khê, gồm 5 traị: Tùng Khê, Trúc Khê, Lệ Khê, Lộ Khê và Nga Khê.

Công lao khai khẩn tạo lập vùng đất Cổ Lễ của Bình Vương Dương Tam Kha đã được các nhà khoa bảng, sĩ phu của các triều đại sau này ghi nhận và ngợi ca. Trong số đó, có bài Dương Công Tùng Khê ấp của Dương Đức Kỳ, Tiến sĩ khoa Kỷ Mùi (1499) đời vua Lê Hiến Tông.

Bốn câu đầu của bài này như sau:

Văn đạo Tùng Khê hữu ngũ trang

Khẩn khai sơ khởi tự Bình Vương

Khê phân cư thổ kim do biện

Tùng ký trung gian cổ vị tường…

Dịch nghĩa:

Nghe nói ấp Tùng Khê chi thành năm trang trại

Mở mang ban đầu là do Bình Vương

Khe nước chia theo dân cư, nay vẫn có thể nhận

Tùng trồng chỉ chốn trung tâm khi xưa, không còn thấy nữa…

Gia phả họ Dương cho biết, sau gần 30 năm xây dựng phát triển kinh tế, mở mang văn hóa, duy trì thuần phong mỹ tục vùng đất Cổ Lễ, năm Canh Thìn (980), Dương Tam Kha trở lại quê cũ Làng Giàng (Thiệu Dương, Thanh Hóa). Ông đã mất tại đây vào ngày mùng 10 tháng 8 năm Canh Thìn.

Dương Tam Kha có 3 bà vợ, sinh được 10 con trai và 9 con gái. Ông để 5 con trai ở lại tiếp tục sự nghiệp phát triển kinh tế nông nghiệp ở Tùng Khê và đưa 5 người con trở về quê Thanh Hóa. Đứng đầu chi họ Dương tại Làng Giang là người con trưởng Dương Đại Thiên, còn đứng đầu chi họ Dương ở Tùng Khi là con trai thứ hai Dương Tiên Du.

Qua một vài nét về thân thế và sự nghiệp của Bình Vương Dương Tam Kha trình bày trên đây, chúng ta cần có một vài suy nghĩ như sau:

1. Cần ghi nhận công lao, sự nghiệp và vị thế của Dương Tam Kha trong lịch sử dân tộc; là một vị vua giữ gìn và củng cố nền độc lập, tự chủ của đất nước mới giàng được sau 1000 năm Bắc thuộc vào giữa thế kỷ X như bất kỳ một vị nguyên thủ quốc gia nào thời bấy giờ như Khúc Thừa.

2. Cần bổ sung thêm sự kiện Dương Tam Kha tham gia tích cực vào chiến thắng Bạch Đằng năm 938 do Ngô Quyền lãnh đạo, nhất là việc ông là người trực tiếp chém chết tướng giặc Lưu Hoằng Thao, đuổi quân Nam Hán rút chạy về nước.

3. Bình Vương Dương tam Kha sau khi bị truất ngôi Vua, khi đó Dương Tam Kha thừa khả năng tập hợp lực lương lật đổ Ngô Xương Văn, nhưng Ông về Chương Dương, Cổ Lễ (Giao Thuỷ-Nam Định) an cư, lạc nghiệp mà không quan tâm đến việc triều đình. Hành động của Ông được các nhà sử học ngày nay đánh giá rất cao, đấy là sự hy sinh quyền lợi của mình cho nền độc lập tự chủ còn quá non trẻ mới giành được sau 1000 năm Bắc thuộc./.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Quảng cáo trái
Quảng cáo phải
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây